Tôi đứng ch/ết lặng giữa khoảng sân gạch cũ. Cậu bé chừng mười tuổi đang cúi vá lưới nhìn lên. Nước da ngăm vì nắng gió biển, tóc cắt ngắn, áo thun cũ rộng hơn người. Nhưng sống mũi thẳng, vầng trán cao, cái cằm hơi bướng, nhất là đôi mắt. Đôi mắt vừa trong vừa buồn, có nét hiền nhẫn chịu khiến tôi nhớ đến Thảo đến nh/ói ti/m.
Từ trong bếp, bà Thơm bưng rổ rau muống bước ra. Mười năm thôi mà người đàn bà ngày trước còn rắn rỏi đã còng hẳn. Vừa nhìn thấy tôi, bà làm rơi rổ rau.
“Mẹ…” tôi gọi khẽ.
Bà không nghĩ ngợi, bước vụt tới kéo cậu bé nép ra sau lưng mình. Cánh tay gầy giang ngang như thể người trước mặt có thể cư/ớp mất phần quý nhất đời bà.
Cậu bé khẽ bám vào vạt áo bà. “Ngoại, chú này là ai vậy?”
Câu hỏi rất thường. Tim tôi như hụt hẳn xuống.
Tôi cố giữ giọng bình tĩnh. “Mẹ, con là Quân. Con về thắp hương cho Thảo với thăm mẹ.”
Bà mấp máy môi rất lâu. “Con về thật đó hả?”
Tôi cúi xuống đặt giỏ quà lên mép thềm. Cậu bé vẫn nép sau lưng bà nhưng ánh mắt không hẳn sợ. Nó cúi xuống nhanh tay nhặt mấy cọng rau rơi, phủi sạch đất rồi đặt lại vào rổ. Cử chỉ nhỏ ấy khiến tôi thắt lòng.
Đúng lúc ấy, ba người xộc vào sân. Đi đầu là Vân Cò, tóc nhuộm đỏ, tay xách túi. Theo sau là Hào Sẹo, vai bè, mắt lư/ờm. Người cuối là Dũng, đầu cúi gằm.
Vân rút tờ giấy gấp tư. “Bà vay bảy triệu, nay cả gốc lẫn lãi mười hai triệu ba. Hôm nay không thanh toán thì tính chuyện gán nhà.”
Bà Thơm run lên. “Tôi không vay. Hồi đó thằng Dũng bảo ký giúp giấy nhận lưới với đá lạnh. Tôi có cầm đồng nào đâu.”
Hào cười k/hẩy, đạp lật cái chậu nước mưa. “Ký là ký.”
Vân hất mặt về phía cậu bé. “Hay bà tính bấu vào thằng nhỏ này? Cái giống trẻ không cha thì được tích sự gì?”
Bàn tay cậu bé siết chặt. Nó cúi xuống dựng lại cái giá vừa bị va. Không cãi nửa lời. Rõ ràng đứa bé này đã quen nghe những lời như dao cắt.
Hào sấn tới. “Thế thì lôi thằng nhỏ theo đi làm thuê trả nợ.”
Cậu bé lập tức giang tay chắn trước bà ngoại. Nó run thấy rõ nhưng chân không lùi. “Mấy người đừng đụng tới ngoại tôi.”
Tôi bước tới, chặn cổ tay Hào, siết mạnh. “Ở đây không ai có quyền đánh bà già với trẻ con.”
Trong lúc lôi kéo, khuỷu tay Hào quệt vào người cậu bé. Ống tay áo rách một đường, để lộ bắp tay trái với vết bớt đỏ sẫm hình bán nguyệt.
Tôi khựng lại. Vết bớt ấy tôi biết. Cha tôi có, tôi có, cả họ bên nội có. Đàn ông nhà này mang cái dấu như trăng khuyết trên tay, đi đâu cũng không lẫn.
Cậu bé cúi xuống nhặt cây kim vá lưới. Từ túi áo ngực rơi ra chiếc khăn tay cũ. Mép khăn sờn, góc khăn thêu bằng chỉ xanh hai chữ: Đức Phúc.
Tôi cúi nhìn. Cái tên ấy là tên Thảo từng chọn khi mang thai. Tối đó cô tựa đầu vào vai tôi thì thầm: “Nếu con trai em muốn đặt là Đức Phúc. Sống có đức rồi trời thương, thế nào cũng có phúc.”
Tôi nhìn vết bớt, nhìn chiếc khăn tay, nhìn gương mặt đứa bé đang đứng chắn trước bà ngoại. Tất cả mảnh rời vừa va vào nhau thành một nhát sét chói lòa.
—
Sau khi đuổi nhóm Vân Cò đi, khoảng sân rơi vào im ắng nặng nề. Tôi ngồi xuống ghế gỗ thấp, giọng khàn đặc.
“Mẹ, thằng bé là ai?”…………..
X/EM TI/ẾP PH/ẦN 2 BÊN DƯỚI
![]()
![]()
![]()
Bà Thơm run đến mức phải bấu vào góc áo. Rất lâu sau bà mới kể, giọng đứt quãng.
“Hôm đó, xe khách lật, con Thảo được đưa vào trạm xá. Nó bị thương nặng lắm, người đầy máu nhưng còn sống. Bác sĩ mổ gấp, lấy được đứa nhỏ trong bụng.”
Tôi nghe đến đó, chân như cắm chặt xuống nền gạch.
Bà òa khóc. “Con Thảo chỉ kịp nhìn mẹ một lần rồi nó đi. Nó không kịp bế con, không kịp gọi tên con.”
Tôi há miệng nhưng mãi mới bật ra được tiếng. “Vậy con tôi không chết.”
Bà cúi gằm. “Mẹ sợ. Lúc đó con như người mất hồn, đập đầu vào tường đòi đi theo vợ con. Mẹ sợ nếu mang đứa nhỏ tới, con gượng không nổi. Mẹ ích kỷ. Mất con Thảo, mẹ chỉ còn mỗi nó. Rồi để lâu quá không còn dám nói nữa.”
Tôi quay sang nhìn Đức Phúc. Cậu đang nhìn tôi bằng đôi mắt hoang mang. Tôi muốn gọi một tiếng “con” nhưng cổ họng đặc quánh.
Cô Liên – hàng xóm – mang đến tờ giấy. Bài văn của Phúc tuần trước, đề “Người con thương nhất”. Cậu viết về bà ngoại rất đơn sơ. Dòng cuối: “Con chỉ mong học xong sớm để mua thuốc cho ngoại và lợp lại mái bếp.”
Tôi gấp tờ giấy lại rất chậm.
—
Đêm ấy bà Thơm ho dữ. Y sĩ đến khi trời sẫm. “Bà cụ bị phổi mạn lâu rồi. Để ho kéo dài thế này thì xuống nhanh lắm.”
Sáng hôm sau bà gọi Phúc lại. “Mai mốt con theo ba lên Hà Nội.”
Đức Phúc đứng phát dậy, mặt tái đi. “Con không đi.”
Bà nói bằng giọng cứng. “Ngoại mệt rồi. Ngoại nuôi con tới chừng này là hết sức.”
Phúc quỳ xuống, ôm lấy đầu gối bà. “Con không cần sướng. Con ở với ngoại quen rồi. Con lên đó ai trông ngoại?”
Bà gỡ tay cháu, đẩy nhẹ về phía cửa. Phúc ngã chúi xuống bậc thềm. Bà khép cánh cửa gỗ lại, trượt lưng xuống vách, ôm ngực cắn môi đến bật máu.
Ngoài hiên, Phúc đập tay vào cánh cửa ướt. “Ngoại ơi, ngoại mở cửa cho con. Con không theo ai hết.”
Tôi đứng giữa khoảng sân loang nước. Chỉ cần tôi bước tới, ôm con lên xe, nói “con theo bố” thì chẳng ai cản được. Nhưng tôi hiểu: nếu làm thế, tôi đang cướp con khỏi nơi duy nhất nó thuộc về.
Tôi quỳ xuống bên cạnh Phúc. Bùn nước bắn lên ống quần. Tôi đặt tay lên vai nó. “Mẹ ơi, nếu thằng bé chưa rời mẹ được thì con ở lại. Con chỉ xin mẹ mở cửa cho con được về nhà.”
Hai chữ “về nhà” vừa dứt, cánh cửa bên trong mở. Bà Thơm quỳ xuống ôm chặt cháu. Tôi vẫn quỳ đó, bàn tay đặt hờ lên lưng con, không rời không kéo, chỉ lặng lẽ chạm vào như một lời xin được đứng trong vòng ôm ấy.
—
Những ngày sau tôi ở lại. Tôi học xách nước giếng, quét sân, gỡ lưới. Tôi chở Phúc đến trường, chiều nào cũng ngồi dưới gốc bàng chờ. Ngày thứ ba, vẻ đề phòng trong mắt cậu bé bắt đầu dịu xuống.
Một chiều tôi đang mổ cá, dao cứa ngang ngón trỏ. Máu bật ra đỏ tươi.
Đức Phúc quăng nắm rau xuống, lao tới. “Bố, để con lấy băng.”
Tiếng gọi bật ra nhanh đến mức không ai kịp chuẩn bị. Cả gian bếp im bặt. Bà Thơm ngoài hiên khựng tay, nước mắt rưng rưng.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế thấp, gần như không dám thở. Mười năm. Mười năm tôi không được nghe tiếng gọi ấy.
Phúc nắm tay tôi, đầu ngón tay gầy mà ấm. Nó chăm chú băng vết cắt. “Tại dao bén quá. Con nói rồi, cầm nghiêng chút mới dễ.”
Tôi quay mặt đi, giấu đôi mắt đỏ. “Ừ, bố biết rồi.”
Hai chữ ấy tôi nói xong mà giọng khàn hẳn.
—
Một năm sau, xóm biển vẫn đón gió. Vân Cò, Hào Sẹo bị xử lý. Tôi không mua đất, không xây nhà tầng. Tôi chỉ sửa lại căn nhà cũ cho chắc hơn. Mái tôn dột được thay bằng ngói đỏ.
Phúc giờ đã cao thêm một đoạn. Chiều nào tan học cậu cũng chạy ra cổng, thấy tôi thì cười tít mắt. Có hôm ôm eo tôi nói: “Bữa nay con được điểm tốt, tối bố đừng kho cá mặn quá.”
Cái tiếng “bố” giờ đã thành quen trong nhà. Vẫn mộc, vẫn thật, nghe đến đâu ấm đến đó.
Chiều hôm ấy biển lặng. Trong bếp nồi canh chua cá nục bốc khói. Tôi đứng cắt cá, không còn làm rơi xuống nền nữa. Phúc ngồi nhặt rau, lâu lâu lại nhắc: “Bố cắt nhỏ thôi, ngoại ăn miếng to khó nuốt.”
Ngoài hiên bà Thơm vừa tước đậu vừa cười móm mém. “Nhà này giờ thằng nhỏ làm chủ mồm rồi đó.”
Tiếng cười lan nhẹ qua gian bếp, chạm lên bàn thờ Thảo đang nghi ngút khói nhang chiều. Tôi ngẩng lên nhìn di ảnh vợ. Lần đầu tiên sau rất nhiều năm, lòng tôi yên. Không phải vì đã lấy lại được điều tưởng mất, mà vì cuối cùng những người đáng thuộc về nhau đã học được cách ngồi lại bên nhau.
Ngoài sân, gió biển thổi vào mát rượi. Trong căn bếp nhỏ, một tiếng gọi vừa thành hình đã làm cả mái nhà ấm thêm. Còn mười năm đã mất thì vẫn nằm đó, không cách nào lấy lại được nữa.
Để lại một phản hồi